Lãi suất

Lãi suất ngân hàng Việt Nam 2026: mặt bằng và tác động tới đầu tư

Lãi suất tiền gửi bình quân 6,38%/năm tại mốc 20/9/2026 nhưng NHNN yêu cầu giảm tối thiểu 0,5 điểm % với kỳ hạn từ 6 tháng. Bài phân tích mặt bằng lãi suất 2026 theo ba kênh: tiền gửi, trái phiếu Chính phủ và cổ phiếu ngân hàng, kèm lãi suất thực sau khi trừ CPI 4,52%.

Lãi suất ngân hàng Việt Nam 2026: mặt bằng và tác động tới đầu tư
Ảnh minh họa. Nguồn: Pexels

Đến 20/9/2026, lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới đã lên 6,38%/năm, cao hơn cuối năm 2025 khoảng 1,15 điểm % [theo Cổng TTĐT Chính phủ, 07/10/2026], trong khi CPI bình quân chín tháng năm 2026 là 4,52% [theo Cục Thống kê, 03/10/2026]. Ngay sau đó, NHNN yêu cầu các ngân hàng giảm tối thiểu 0,5 điểm % lãi suất tiền gửi với mọi kỳ hạn từ 6 tháng trở lên [theo Cổng TTĐT Chính phủ, 19/10/2026]: mặt bằng vẫn ở đỉnh, trong khi cơ quan điều hành đang siết nó xuống.

Mặt tiền nguyên cột của trụ sở Ngân hàng Nhà nước với dòng chữ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC và lá cờ Tổ quốc phát phay trước toà nhà kính ở TP.Hồ Chí Minh
NHNN giữ nguyên lãi suất điều hành suốt năm 2026, nhưng mặt bằng lãi suất huy động vẫn bị đẩy lên bởi áp lực thanh khoản. Nguồn ảnh: Pexels (Ninh Tien Dat).

Mặt bằng lãi suất 2026: điều hành đứng yên, huy động vẫn leo

Trong các tháng đầu năm 2026, NHNN giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp [theo NHNN Chi nhánh Hà Nội, 15/04/2026]. Mức đang áp dụng là lãi suất tái cấp vốn 4,5%/năm theo Quyết định 1123/QĐ-NHNN hiệu lực từ ngày 19/6/2023, tái chiết khấu 3,0%/năm và cho vay qua đêm 5,0%/năm [theo LuatVietnam, 01/06/2026]. NHNN cũng yêu cầu các tổ chức tín dụng công bố lãi suất cho vay trên trang thông tin điện tử của ngân hàng, và ngày 30/3/2026 ban hành công văn số 2342/NHNN-CSTT yêu cầu triển khai giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất thị trường [theo NHNN Chi nhánh Hà Nội, 15/04/2026]. Bối cảnh quốc tế cũng không thuận lợi: Cục Dự trữ liên bang Mỹ tăng lãi suất ngày 16/9, Ngân hàng Trung ương châu Âu tăng lãi suất chủ chốt ngày 10/9 và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản nâng lãi suất ngày 18/9 [theo Cổng TTĐT Chính phủ, 07/10/2026].

Giữ nguyên lãi suất điều hành không có nghĩa mặt bằng thị trường đi ngang. Lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới đến 20/9/2026 ở mức 6,38%/năm, tăng 1,15 điểm % so với cuối năm 2025 [theo Cổng TTĐT Chính phủ, 07/10/2026] — con số Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà dẫn lại trong phân tích về ba động thái giúp mặt bằng lãi suất ổn định hơn [theo Dương Đình Châu, 08/10/2026]. Đỉnh điểm của cú siết nằm ở giữa năm: tháng 7/2026 có nơi áp dụng lãi suất huy động 9%/năm ngay từ kỳ hạn 6 tháng [theo Vietstock, 05/07/2026]. Phía cầu vốn, dư nợ tín dụng đến 31/3/2026 đạt trên 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025; đến cuối 9/2026, dư nợ đạt 20,75 triệu tỷ đồng, tăng 16,69% cùng kỳ [theo Cổng TTĐT Chính phủ, 07/10/2026]. Mục tiêu lạm phát năm 2026 của NHNN là bình quân khoảng 4,5% [theo NHNN Chi nhánh Hà Nội, 15/04/2026], trong khi CPI bình quân chín tháng năm 2026 đã tăng 4,52% [theo Cục Thống kê, 03/10/2026].

Ba mốc để đọc mặt bằng lãi suất năm 2026

6,38%/năm — lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới, mốc 20/9/2026 [theo Cổng TTĐT Chính phủ, 07/10/2026].

4,52% — CPI bình quân chín tháng năm 2026 [theo Cục Thống kê, 03/10/2026].

−0,5 điểm % — mức giảm tối thiểu với lãi suất tiền gửi niêm yết, kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, đối chiếu kỳ báo cáo 11/10–20/10/2026 [theo CafeF, 21/10/2026].

Bảng lãi suất tiền gửi 12 tháng: tại quầy và online lệch nhau ra sao

Bảng niêm yết tháng 10/2026 của Techcombank cho thấy mặt bằng phân tầng mạnh: kỳ hạn 12 tháng chạy từ 3,7%/năm tới 7,8%/năm tùy ngân hàng, và kênh gửi tạo ra chênh lệch riêng. Mức cao nhất ở kênh online là SHB ở 7,8%/năm, còn tại quầy là OceanBank ở 7,0%/năm; thấp nhất ở cả hai kênh là SCB ở 3,7%/năm — biên độ lần lượt 4,1 điểm % và 3,3 điểm % [theo Techcombank, 27/10/2026]. Trang nguồn ghi thường lãi suất gửi online cao hơn tại quầy từ 0,1–0,4%/năm [theo Techcombank, 27/10/2026], nhưng trong bảng tháng 10/2026, SHB chênh 1,6 điểm %, BIDV chênh 2,0 điểm %, Agribank và VietinBank chênh 1,4 điểm %; Techcombank là ngoại lệ, mức online thấp hơn tại quầy 0,4 điểm %. Cấu trúc kỳ hạn còn quan trọng hơn con số đẹp nhất: kỳ hạn 1 tháng tại Vietcombank chỉ 2,1%/năm so với 5,5%/năm ở kỳ hạn 12 tháng [theo Techcombank, 27/10/2026]. Bảng lãi suất tiền gửi VND bình quân của NHNN tháng 8/2026 cũng phân tầng theo kỳ hạn: 4,1–4,6%/năm từ 1 tháng đến dưới 6 tháng, 6,5–8,0%/năm từ 6 tháng đến 12 tháng, 7,2–8,1%/năm từ trên 24 tháng [theo CafeF, 21/09/2026]. Bài này so sánh theo kênh gửi ở cùng một kỳ hạn rồi tới lãi suất thực, khác với bài so sánh lãi suất tiết kiệm tháng 10/2026 theo quy mô ngân hàng đã đăng ngày 20/10/2026.

Bảng 1 — Lãi suất tiền gửi niêm yết kỳ hạn 12 tháng, kênh gửi tại quầy và gửi online. Đơn vị: %/năm. Kỳ dữ liệu: tháng 10/2026, bài cập nhật ngày 27/10/2026. Nguồn: Techcombank, bảng so sánh lãi suất gửi tiết kiệm 30+ ngân hàng. Cách đo: mức niêm yết tại thời điểm công bố, lãi nhận cuối kỳ; mức điều kiện theo từng ngân hàng (mức của Techcombank áp dụng cho khách hàng Private với số tiền gửi trên 3 tỷ; SHB và PVcomBank áp dụng mức cho số tiền gửi dưới 2 tỷ; VPBank và MBBank áp dụng mức dưới 1 tỷ). Bảng khảo sát gồm 34 ngân hàng; bảng dưới trích 14 dòng có đủ mức ở cả hai kênh, hai trung bình 6,35%/5,67% được tính trên đủ 34 dòng của bảng nguồn. Đây là mẫu khảo sát niêm yết, không đồng nhất với bình quân có trọng số của NHNN.
Ngân hàng Gửi tại quầy Gửi online Chênh lệch (điểm %)
SHB 6,2 7,8 +1,6
BIDV 5,4 7,4 +2,0
Agribank 5,4 6,8 +1,4
VietinBank 5,4 6,8 +1,4
ACB 4,8 5,8* +1,0
BacABank 6,6 7,1 +0,5
Techcombank 5,75 5,35 −0,4
MBBank 5,7 6,3 +0,6
Vietcombank 5,5 5,9 +0,4
SCB 3,7 3,7 0,0
VPBank 6,4 6,75 +0,35
OceanBank 7,0 7,0 0,0
LPBank 6,1 7,2 +1,1
VIB 6,5 7,0 +0,5

* Mức 5,8%/năm của ACB ở kênh online là mức niêm yết ghi trong bảng khảo sát; chênh lệch +1,0 điểm % là phép trừ của tác giả.

Điểm cần thận trọng là ranh giới giữa mẫu khảo sát và số liệu hệ thống. Trung bình đơn giản của 34 mức niêm yết 12 tháng trong bảng khảo sát — không trọng số theo số dư tiền gửi — là 6,35%/năm ở kênh online và 5,67%/năm ở kênh tại quầy; con số 6,38%/năm của NHNN là bình quân có trọng số [theo Cổng TTĐT Chính phủ, 07/10/2026]. Hai con số gần nhau là trùng hợp, không phải xác nhận chéo.

Lệnh giảm 0,5 điểm %: ai chịu thiệt

Ngày 19/10/2026, NHNN họp với các tổ chức tín dụng tại Hà Nội do Thống đốc Phạm Đức Ấn chủ trì. Ngay sau Văn bản số 608 ngày 18/10, NHNN yêu cầu các ngân hàng thương mại giảm tối thiểu 0,5%/năm lãi suất tiền gửi niêm yết với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, kèm yêu cầu “tuyệt đối không chạy đua tăng lãi suất huy động”; đồng thời yêu cầu giảm lãi suất cho vay, tập trung mức giảm 1,5–2%/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên [theo Cổng TTĐT Chính phủ, 19/10/2026]. Công văn số 9736/NHNN-CSTT ngày 21/10/2026 tiếp tục quán triệt các ngân hàng giảm thực chất lãi suất huy động và cho vay, với mốc giảm tối thiểu 0,5%/năm so với mức lãi suất của chính ngân hàng tại kỳ báo cáo 11/10–20/10/2026; nếu không thực hiện, NHNN “sẽ có biện pháp xử lý nghiêm, bao gồm cả việc xem xét giảm/giao thấp chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng” [theo CafeF, 21/10/2026]. Thực tế đã có ngân hàng giảm lãi suất huy động và cho vay, mức giảm tới 2%/năm [theo Vietstock, 20/10/2026].

Với người gửi, con số dễ cảm nhất là quy mô tiền: khoản 100 triệu đồng kỳ hạn 12 tháng mất 500.000 đồng lãi trong năm nếu mức giảm 0,5 điểm % áp dụng đầy đủ, tương đương khoảng 41.667 đồng mỗi tháng; khoản 500 triệu đồng mất 2,5 triệu đồng lãi trong năm. Với ngân hàng, bài toán khó hơn: lãi suất cho vay bình quân toàn hệ thống tháng 8/2026 đã ở dải 8,4–10,7%/năm, trong khi lãi suất tiền gửi VND bình quân kỳ hạn 6–12 tháng chỉ 6,5–8,0%/năm — tính theo điểm giữa, chênh lệch là 2,30 điểm %, cùng chiều từ 0,4 điểm % ở biên dưới tới 4,2 điểm % ở biên trên [theo CafeF, 21/09/2026]. Điểm cần theo dõi là chênh lệch tốc độ hai vế của bảng cân đối: tính đến cuối tuần liền trước cuộc họp 19/10, huy động vốn tăng 11,22% trong khi tín dụng tăng 11,44%, chênh 0,22 điểm % [theo Cổng TTĐT Chính phủ, 19/10/2026].

Quy mô tác động của lệnh giảm 0,5 điểm %

Gốc 100.000.000 đồng × 0,5% = 500.000 đồng/năm (khoảng 41.667 đồng/tháng).

Gốc 500.000.000 đồng × 0,5% = 2.500.000 đồng/năm.

Chênh lệch tuyệt đối không đổi theo mức lãi suất: người gửi mất 0,5 điểm % của số tiền gửi, dù đang ở 5,9%/năm hay 7,8%/năm. Công thức: số tiền gửi × 0,5% × (số tháng ÷ 12).

Lãi suất thực: tiền gửi còn dương, trái phiếu Chính phủ âm nhẹ

So lãi suất danh nghĩa với lạm phát là cách biết một khoản tiền gửi còn giữ được sức mua hay không. Lấy CPI bình quân chín tháng năm 2026 là 4,52% làm mốc trừ [theo Cục Thống kê, 03/10/2026], lãi suất thực của các kênh làm khác nhau rõ rệt: SHB gửi online 12 tháng ở 7,8%/năm cho +3,28 điểm %/năm, BIDV gửi online ở 7,4%/năm cho +2,88 điểm %/năm, còn mức bình quân hệ thống 6,38%/năm chỉ còn +1,86 điểm %/năm. Người gửi tại VietABank với mức niêm yết 5,9%/năm ở kênh quầy giữ được +1,38 điểm %/năm, khác với bình quân hệ thống 6,38%; còn nếu NHNN ép giảm đúng 0,5 điểm % từ mức bình quân thì là +1,36 điểm %/năm. Ở chiều ngược lại, trái phiếu Chính phủ 10 năm trúng thầu 4,43%/năm cho lãi suất thực −0,09 điểm %/năm và 5 năm ở 4,25%/năm cho −0,27 điểm %/năm; chỉ kỳ hạn 30 năm ở 4,60%/năm mới vượt nhẹ mốc lạm phát. Đây là phép trừ CPI — xấp xỉ sức mua thực, không phải lợi suất thực Fisher.

Bàn tay cầm bút chỉ vào biểu đồ cột có các mốc phần trăm 6,29%, 4,09% và 2,98%, bên cạnh máy tính bỏ túi trên mặt bàn gỗ
Lãi suất danh nghĩa khác lãi suất thực: chỉ khi trừ lạm phát 4,52% mới thấy sức mua thực của mỗi kênh tiền gửi. Ảnh minh hoạ. Nguồn ảnh: Pexels (RDNE Stock project).
Bảng 2 — Lãi suất thực theo phép trừ CPI bình quân chín tháng năm 2026 (4,52%). Đơn vị: điểm %/năm. Kỳ dữ liệu: mức lãi suất tháng 10/2026 và lợi suất trúng thầu tháng 8–10/2026. Nguồn: mức tiền gửi từ Techcombank (27/10/2026) và Cổng TTĐT Chính phủ (07/10/2026); lợi suất TPCP từ Diện Đàn Doanh nghiệp (12/10/2026) và Tap chí Kinh tế tài chính (17/09/2026); CPI từ Cục Thống kê (03/10/2026). Cách đo: lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa − 4,52%; là xấp xỉ sức mua thực, không phải lợi suất thực Fisher.
Kênh Lãi suất danh nghĩa Lãi suất thực Mốc
SHB gửi online 12 tháng 7,80% +3,28 10/2026
BIDV gửi online 12 tháng 7,40% +2,88 10/2026
BacABank gửi online 12 tháng 7,10% +2,58 10/2026
Tiền gửi bình quân hệ thống 6,38% +1,86 20/9/2026
Bình quân hệ thống sau giảm 0,5 điểm % 5,88% +1,36 Áp dụng lệnh 19/10/2026
VietABank 12 tháng tại quầy 5,90% +1,38 10/2026
Trái phiếu Chính phủ 30 năm 4,60% +0,08 Cuối 8/2026
Trái phiếu Chính phủ 10 năm 4,43% −0,09 Phiên 7/10/2026
Trái phiếu Chính phủ 10 năm 4,41% −0,11 Cuối 8/2026
Trái phiếu Chính phủ 5 năm 4,25% −0,27 Cuối 8/2026
0 +1 +2 +3 +3,28 SHB +2,88 BIDV +2,58 BacA +1,86 BQ hệ thống +1,38 Quầy 5,9% −0,09 TPCP 10N −0,27 TPCP 5N
Biểu đồ 1 — Lãi suất thực theo kênh. Đơn vị: điểm %/năm. Kỳ dữ liệu: tiền gửi 10/2026, TPCP cuối 8/2026 và phiên 7/10/2026. Cách đo: lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa − CPI 4,52%; cột “Quầy” là mức niêm yết tại quầy của VietABank. Nguồn: Techcombank, Cổng TTĐT Chính phủ, Tap chí Kinh tế tài chính, Cục Thống kê.

Trái phiếu Chính phủ 5–10 năm so với tiền gửi: chênh lệch gần 2 điểm %

Trái phiếu Chính phủ là kênh “hàng hóa” thay tiền mặt dài hạn, và đường cong lợi suất cho thấy vì sao nó không phải chỗ để tăng sức mua. Lợi suất trúng thầu tại phiên cuối tháng 8/2026 là 4,25%/năm cho kỳ hạn 5 năm, 4,41%/năm cho 10 năm, 4,55%/năm cho 15 năm và 4,60%/năm cho 30 năm [theo Tap chí Kinh tế tài chính, 17/09/2026]. Đến phiên 7/10/2026, lợi suất trúng thầu kỳ hạn 10 năm là 4,43%/năm, mức cao nhất kể từ năm 2023 [theo Diện Đàn Doanh nghiệp, 12/10/2026]. So với lãi suất tiền gửi bình quân 6,38%/năm, chênh lệch là −1,95 điểm %; so với mức niêm yết 5,9%/năm của VietABank ở kênh tại quầy là −1,47 điểm %; và so với mức cao nhất 7,8%/năm khi gửi online là −3,37 điểm %. Ở kỳ hạn 5–10 năm, người mua trái phiếu Chính phủ nhận lợi suất thực âm nhẹ còn người gửi tiền vẫn dương — khác biệt nằm ở kỳ hạn và thanh khoản, không ở mức lãi suất danh nghĩa.

Bảng 3 — Lợi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5–30 năm so với các mức tiền gửi. Đơn vị: %/năm (điểm %/năm ở cột chênh lệch). Kỳ dữ liệu: lợi suất trúng thầu cuối tháng 8/2026 và phiên 7/10/2026; tiền gửi mốc 20/9/2026 và tháng 10/2026. Nguồn: Tap chí Kinh tế tài chính (17/09/2026), Diện Đàn Doanh nghiệp (12/10/2026), Cổng TTĐT Chính phủ (07/10/2026), Techcombank (27/10/2026). Cách đo: lợi suất trúng thầu tại phiên đấu thầu KBNN tổ chức trên HNX; chênh lệch so sánh một chiều với từng mức tiền gửi ở cùng bảng.
Loại Kỳ hạn / mốc Lợi suất So với tiền gửi 6,38% So với tiền gửi tại quầy VietABank 5,9% Lãi suất thực (trừ 4,52%)
Trái phiếu Chính phủ 5 năm, cuối 8/2026 4,25% −2,13 −1,65 −0,27
Trái phiếu Chính phủ 10 năm, cuối 8/2026 4,41% −1,97 −1,49 −0,11
Trái phiếu Chính phủ 10 năm, phiên 7/10/2026 4,43% −1,95 −1,47 −0,09
Trái phiếu Chính phủ 15 năm, cuối 8/2026 4,55% −1,83 −1,35 +0,03
Trái phiếu Chính phủ 30 năm, cuối 8/2026 4,60% −1,78 −1,30 +0,08
Tiền gửi bình quân hệ thống 20/9/2026 6,38% — +0,48 +1,86
Tiền gửi VietABank tại quầy 12 tháng 10/2026 5,90% −0,48 — +1,38
Tiền gửi online 12 tháng (mức cao nhất) 10/2026 7,80% +1,42 +1,90 +3,28

Chiều cầu đang nghiêng về kỳ hạn 10 năm, chuẩn trên đường cong lợi suất Việt Nam. Tại phiên 7/10/2026, KBNN dự kiến huy động 8.000 tỷ đồng nhưng giá trị chào mua lên tới 17.600 tỷ đồng ngay trong đợt đầu, mở thầu bổ sung 4.000 tỷ đồng, huy động thành công 12.000 tỷ đồng với lãi suất trúng thầu 4,43%/năm [theo Diện Đàn Doanh nghiệp, 12/10/2026]. Tính đến hết tháng 9, tổng giá trị trái phiếu Chính phủ huy động đạt 299.060 tỷ đồng, hoàn thành 60% kế hoạch phát hành năm 2026. Thị trường thứ cấp: giá trị niêm yết cuối tháng 8/2026 đạt 2.756.461 tỷ đồng, tăng 1%; giao dịch bình quân 17.178 tỷ đồng/phiên, tăng 2,9% [theo Tap chí Kinh tế tài chính, 17/09/2026].

0 2 4 6 4,25 5 năm 4,41 10N T8 4,43 10N 7/10 4,55 15 năm 4,60 30 năm Tiền gửi bình quân 6,38%/năm CPI 9 tháng 2026: 4,52%
Biểu đồ 2 — Lợi suất TPCP so với tiền gửi và CPI. Đơn vị: %/năm. Kỳ dữ liệu: lợi suất trúng thầu cuối 8/2026 và phiên 7/10/2026; tiền gửi mốc 20/9/2026. Cách đo: thanh là lợi suất trúng thầu tại phiên đấu thầu KBNN; nét đứt là mốc tham chiếu. Nguồn: Tap chí Kinh tế tài chính, Diện Đàn Doanh nghiệp, Cục Thống kê.

Cổ phiếu ngân hàng: lợi nhuận tăng, giá và dòng tiền thì không

Lợi nhuận của ngân hàng năm 2026 vẫn tăng, nhưng giá cổ phiếu không theo. Theo ước tính của Chứng khoán Rồng Việt, tổng lợi nhuận trước thuế quý III/2026 của 11 ngân hàng đạt 85.226 tỷ đồng, tăng 23% so với cùng kỳ nhưng giảm 7% so với quý trước; tổng TOI dự kiến khoảng 168.800 tỷ đồng, gồm thu nhập lãi thuần 134 nghìn tỷ đồng và thu nhập ngoài lãi 35 nghìn tỷ đồng [theo VnEconomy, 01/10/2026]. Dẫn đầu quý III là CTG 14.143 tỷ đồng (+33%), VCB 13.405 tỷ đồng (+19%) và VPB 10.678 tỷ đồng (+16%) [theo VnEconomy, 01/10/2026]. Ở Techcombank, số đã công bố cho 9 tháng là lợi nhuận trước thuế 28.900 tỷ đồng, tăng 23,7%, riêng quý III lợi nhuận trước thuế 10.400 tỷ đồng tăng 25,8%, ROE 12 tháng đạt 16,3% so với 14,4% cùng kỳ, SHB ước lãi 14.300 tỷ đồng, tăng 17% [theo CafeF, 20/10/2026].

Phía giá cổ phiếu, câu chuyện năm 2026 là “lợi nhuận vẫn tăng nhưng giá không tăng”. Tháng 9/2026, VN-Index giảm 63,50 điểm, xuống 1.768,62 điểm, tương ứng giảm 3,47%; mặt bằng định giá P/E khoảng 12,17 lần, thấp hơn trung bình 5 năm [theo VnEconomy, 02/10/2026]. Dòng tiền nước ngoài nghiêng rõ về bán ròng: lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, nhà đầu tư nước ngoài bán ròng 37.500 tỷ đồng cổ phiếu ngân hàng, vượt giá trị bán ròng cả năm 2025 là 32.100 tỷ đồng — chênh 5.400 tỷ đồng [theo VnEconomy, 01/10/2026]. Trong nước, đến 2/6/2026, chỉ số chung ngành ngân hàng mới tăng 3% so với cuối năm 2025, mức tăng đến từ nhóm quốc doanh, trừ STB, LPB, MSB [theo Báo Đầu tư, 17/06/2026]. Nhận định của Agriseco Research là “lãi suất tiếp tục là biến số vĩ mô trọng tâm”; báo cáo cũng dự báo lợi nhuận quý III/2026 của TCB tăng 16–18% nhờ tín dụng tăng trên 16% và NIM ổn định [theo VnEconomy, 02/10/2026]. Dòng tiền nội địa đang chọn kênh khác: huy động vốn trên thị trường chứng khoán chín tháng năm 2026 đạt 731,6 nghìn tỷ đồng, tăng 85,6% [theo Cục Thống kê, 03/10/2026].

Toà nhà VietinBank bọc kính xanh với logo trên nóc, nổi lên trên tán cây xanh dưới nền trời xanh ở TP.Hồ Chí Minh
Ngân hàng thương mại đang phải cân bằng giữa giảm lãi suất huy động theo chỉ đạo và giữ mặt bằng lãi suất cạnh tranh với nhau. Nguồn ảnh: Pexels (Tường Chopper).

Kết luận

Mặt bằng lãi suất ngân hàng Việt Nam năm 2026 không phải một con số mà là ba tầng số khác nhau. Tầng thứ nhất là mức điều hành của NHNN — tái cấp vốn 4,5%/năm, tái chiết khấu 3,0%/năm, cho vay qua đêm 5,0%/năm — giữ nguyên suốt năm. Tầng thứ hai là mặt bằng thị trường: lãi suất tiền gửi bình quân 6,38%/năm tại mốc 20/9/2026, cao hơn cuối năm 2025 tới 1,15 điểm %, và đang bị NHNN ép giảm tối thiểu 0,5 điểm % cho kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Tầng thứ ba là mức niêm yết của từng ngân hàng, nơi biên độ kỳ hạn 12 tháng lên tới 4,1 điểm % và chênh lệch giữa gửi online với gửi tại quầy lên tới 2,0 điểm %.

Đối chiếu với lạm phát 4,52% cho thấy bức tranh rõ. Tiền gửi kỳ hạn 12 tháng vẫn cho lãi suất thực dương, nhưng biên an toàn đang hẹp lại: mức bình quân hệ thống sau lệnh giảm còn +1,36 điểm %/năm so với +1,86 điểm %/năm trước đó. Trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5–10 năm đang có lợi suất thực âm nhẹ trong khi nhu cầu dồn vào kỳ hạn 10 năm. Với cổ phiếu ngân hàng, lợi nhuận quý III ước tính tăng 23% so với cùng kỳ nhưng giảm 7% so với quý trước, khối ngoại bán ròng kỷ lục 37.500 tỷ đồng trong 9 tháng, và P/E 12,17 lần vẫn thấp hơn trung bình 5 năm: chi phí vốn cao và dòng tiền nước ngoài đang chi phối định giá nhiều hơn tốc độ tăng trưởng lợi nhuận.

Ba rủi ro đi kèm khi đọc các con số trên: giá trái phiếu Chính phủ thường biến động ngược chiều khi lợi suất đổi; mức giảm 0,5 điểm % là mức tối thiểu nên mức thực hiện ở từng ngân hàng và từng kỳ hạn có thể khác nhau; và với cổ phiếu ngân hàng, NIM cùng chất lượng tín dụng (nợ xấu) mới là hai biến số cần theo dõi bên cạnh tốc độ tăng lợi nhuận.

Bài viết là thông tin tham khảo, không phải khuyến nghị đầu tư hay tư vấn tài chính cá nhân. Các mức lãi suất trích trong bài là mức niêm yết tại thời điểm công bố, kèm điều kiện riêng theo từng ngân hàng; cần kiểm tra lại tại ngân hàng trước khi ký kết.

Lãi suất thực trong bài là phép trừ CPI bình quân chín tháng năm 2026 (4,52%), xấp xỉ sức mua thực chứ không phải lợi suất thực Fisher; các mốc trung bình đơn giản trong bảng khảo sát không trọng số, khác với bình quân có trọng số của NHNN. Bài không đưa ra dự báo lãi suất cho năm 2027 hay khuyến nghị mua/bán mã cổ phiếu cụ thể; các nội dung này sẽ được cập nhật khi có dữ liệu chính thức.

Nguồn tham khảo

Miễn trừ trách nhiệm. Nội dung bài viết mang tính thông tin tham khảo, không phải khuyến nghị đầu tư và không thay thế tư vấn pháp lý chuyên nghiệp. Thông tin về quy định và trạng thái cấp phép có thể thay đổi; hãy đối chiếu với nguồn chính thức tại thời điểm bạn đọc.

Bổ sung tiểu sử tác giả trong Users để tăng tín hiệu E-E-A-T cho bài viết.

Để lại bình luận

Email của bạn không được công khai. Bình luận có thể được kiểm duyệt trước khi hiển thị.